Trách nhiệm pháp lí khi giao tài sản không đúng theo chủng loại? Mức bồi thường thiệt hại quy định như thế nào? Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại?
Trong quá trình giao kết hợp đồng, các bên sẽ cần phải thỏa thuận với nhau về mặt hàng, tài sản là đối tượng của hợp đồng, thời điểm giao hàng,… Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng và nhận tiền trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác về đơn vị vận chuyển. Việc giao hàng phải đúng theo thỏa thuận giữa các bên. Nếu như không đúng theo thỏa thuận thì bên mua có quyền yêu cầu bên bán bồi thường thiệt hại.
1. Trách nhiệm giao tài sản không đúng theo thỏa thuận
Điều 439 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau:
Trường hợp tài sản được giao không đúng chủng loại thì bên mua có một trong các quyền sau đây:
a) Nhận và thanh toán theo giá do các bên thỏa thuận.
b) Yêu cầu giao tài sản đúng chủng loại và bồi thường thiệt hại.
c) Hủy bỏ hợp đồng và yêu cầu bồi thường thiệt hại nếu việc giao không đúng chủng loại làm cho bên mua không đạt được mục đích giao kết hợp đồng.
Trường hợp tài sản gồm nhiều chủng loại mà bên bán không giao đúng với thỏa thuận đối với một hoặc một số loại thì bên mua có thể hủy bỏ phần hợp đồng liên quan đến loại tài sản đó và yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Căn cứ theo quy định trên, khi giao hàng không đúng theo thỏa thuận thì bên bán phải bồi thường thiệt hại cho bên mua.
2. Nguyên tắc bồi thường thiệt hại khi một bên giao hàng không đúng theo thỏa thuận
a) Thiệt hại thực tế phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời. Các bên có thể thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
b) Người chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường nếu không có lỗi hoặc có lỗi vô ý và thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế của mình.
c) Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì bên bị thiệt hại hoặc bên gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường.
d) Khi bên bị thiệt hại có lỗi trong việc gây thiệt hại thì không được bồi thường phần thiệt hại do lỗi của mình gây ra.
e) Bên có quyền, lợi ích bị xâm phạm không được bồi thường nếu thiệt hại xảy ra do không áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để ngăn chặn, hạn chế thiệt hại cho chính mình.
3. Mức bồi thường thiệt hại
Tại Điều 419 Bộ luật dân sự 2015 quy định về bồi thường thiệt hại như sau:
- Thiệt hại được bồi thường do vi phạm nghĩa vụ theo hợp đồng được xác định theo quy định tại khoản 2 Điều này, Điều 13 và Điều 360 của Bộ luật này.
- Người có quyền có thể yêu cầu bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà lẽ ra mình sẽ được hưởng do hợp đồng mang lại. Người có quyền còn có thể yêu cầu người có nghĩa vụ chi trả chi phí phát sinh do không hoàn thành nghĩa vụ hợp đồng mà không trùng lặp với mức bồi thường thiệt hại cho lợi ích mà hợp đồng mang lại.
- Theo yêu cầu của người có quyền, Tòa án có thể buộc người có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người có quyền. Mức bồi thường do Tòa án quyết định căn cứ vào nội dung vụ việc.
Theo đó, cá nhân, pháp nhân có quyền dân sự bị xâm phạm được bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác. Trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.
Khách hàng có thể liên hệ với chuyên viên tư vấn tại Luatsu1900.com, gọi 1900 6259 hoặc gửi thư điện tử tới lienhe@luatsu1900.com để được hỗ trợ. 






0 nhận xét:
Đăng nhận xét