Thứ Sáu, 21 tháng 12, 2018

Mọi tranh chấp đất đai có đều phải hòa giải tại địa phương?

Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai thuộc về ai? Thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như thế nào? Có phải mọi tranh chấp đất đai đều phải thông qua hòa giải?


Tranh chấp đất đai là tranh chấp về quyền, nghĩa vụ của người sử dụng đất giữa hai hoặc nhiều bên trong quan hệ đất đai. Thực tế hiện nay, tranh chấp đất đai xảy ra rất nhiều, rất đa dạng, nhưng chủ yếu bao gồm: Tranh chấp về quyền sử dụng đất, tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh trong quá trình sử dụng đất, tranh chấp về mục đích sử dụng đất. Vậy thì thủ tục giải quyết tranh chấp đất đai được thực hiện như thế nào và có nhất thiết phải thông qua thủ tục hòa giải không?
1. Thẩm quyền giải quyết tranh chấp đất đai
Theo quy định tại Điều 203 Luật đất đai 2013, tranh chấp đất đai đã được hòa giải tại Ủy ban nhân dân cấp xã mà không thành thì được giải quyết như sau:
a) Trường hợp có giấy chứng nhận hoặc một trong các giấy tờ quy định tại Điều 100 Luật này và tranh chấp tài sản gắn liền với đất thì do Tòa án giải quyết;
b) Trường hợp đương sự không có giấy tờ gì thì có thể lựa chọn giải quyết tranh chấp tại Ủy ban nhân dân hoặc Tòa án để thụ lý giải quyết.
2. Thủ tục hòa giải các vụ việc tranh chấp đất đai
Nhà nước khuyến khích các bên tranh chấp đất đai tự hòa giải hoặc giải quyết tranh chấp đất đai thông qua hòa giải ở cơ sở. Tranh chấp đất đai mà các bên tranh chấp không hòa giải được thì gửi đơn đến Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất tranh chấp để hòa giải.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm tổ chức việc hòa giải tranh chấp đất đai tại địa phương mình; trong quá trình tổ chức thực hiện phải phối hợp với Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cấp xã và các tổ chức thành viên của Mặt trận, các tổ chức xã hội khác. Thủ tục hòa giải tranh chấp đất đai tại Ủy ban nhân cấp xã được thực hiện trong thời hạn không quá 45 ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu giải quyết tranh chấp đất đai. Việc hòa giải phải được lập thành biên bản có chữ ký của các bên và có xác nhận hòa giải thành hoặc hòa giải không thành của Ủy ban nhân dân cấp xã. Trường hợp hòa giải không thành thì đương sự nộp đơn tới Uỷ ban nhân dân hoặc Tòa án để giải quyết tranh chấp.
Tuy nhiên, theo quy định tại khoản 2 điều 3 Nghị quyết 04/2017/NQ- HĐTP thì đối với tranh chấp ai là người có quyền sử dụng đất mà chưa được hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chấp theo quy định tại Điều 202 Luật đất đai năm 2013 thì được xác định là chưa có đủ điều kiện khởi kiện quy định tại điểm b khoản 1 Điều 192 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015. Đối với tranh chấp khác liên quan đến quyền sử dụng đất như: tranh chấp về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất, tranh chấp về thừa kế quyền sử dụng đất, chia tài sản chung của vợ chng là quyn sử dụng đất,… thì thủ tục hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có đất tranh chp không phải là điều kiện khởi kiện vụ án.
Như vậy, thủ tục hòa giải tại cấp xã là thủ tục bắt buộc đối với các tranh chấp về việc ai là người có quyền sử dụng đất, với trường hợp này thì cần phải thông qua thủ tục hòa giải thì các bên mới có quyền khởi kiện tại tòa án. Trong các tranh chấp còn lại thì thủ tục hòa giải tại cấp xã không phải là thủ tục bắt buộc trước khi khởi kiện tại Tòa nhưng nhà nước vẫn khuyến khích các bên hòa giải với nhau trước khi thực hiện thủ tục khởi kiện. 
Khách hàng có thể liên hệ với chuyên viên tư vấn tại Luatsu1900.com, gọi 1900 6259 hoặc gửi thư điện tử tới lienhe@luatsu1900.com để được hỗ trợ. 

0 nhận xét:

Đăng nhận xét