Thứ Năm, 6 tháng 12, 2018

Đất làm nhà thờ họ sẽ do ai đứng tên?


Đất làm nhà thờ họ khác với đất sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân như thế nào? Đất làm nhà thờ họ sẽ do ai đứng tên?
Theo phong tục tập quán không chỉ ở Việt Nam mà của các nước phương đông theo thuyết nho giáo thì việc xây dựng đền thờ, chùa, miếu là việc nên làm và đó là tập quán lâu đời. Việc xây nhà thờ họ  thường sẽ do một nhóm người cùng nhau xây một nhà thờ để thờ cúng tổ tiên, nhớ về những người đời trước. Đất của nhà thờ họ chỉ sử dụng mục đích duy nhất là thờ cúng, lễ bái nhưng vẫn phải được cấp sổ đỏ theo đúng quy định của pháp luật, việc đông người cùng nhau sử dụng đất nhà thờ họ thì việc do ai đứng tên là rất quan trọng, nhằm tránh những tranh chấp không đáng có sau này.
1. Đất làm nhà thờ họ khác với đất sử dụng cho hộ gia đình, cá nhân như thế nào?
Như đã phân tích trên thì đất làm nhà thờ họ có mục đích sử dụng đặc biệt do vậy việc sở hữu là sở hữu chung của các thành viên trong nhà thờ họ. Theo điều 211 Bộ luật dân sự năm 2015 thì đây được xem là sở hữu chung của cộng đồng được hình thành theo tập quán, tài sản do các thành viên của cộng đồng cùng nhau đóng góp, quyên góp, được tặng cho chung hoặc từ các nguồn khác phù hợp với quy định của pháp luật nhằm mục đích thỏa mãn lợi ích chung hợp pháp của cộng đồng và các thành viên của cộng đồng cùng quản lý, sử dụng, định đoạt tài sản chung theo thỏa thuận hoặc theo tập quán vì lợi ích chung của cộng đồng nhưng không được vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Điều quan trọng mà điều luật này quy định đó là Tài sản chung của cộng đồng là tài sản chung hợp nhất không phân chia.
Do vậy đất làm nhà thờ họ không thuộc sở hữu của riêng ai và mọi người thuộc cộng đồng của nhà thờ họ đều có quyền sử dụng đất như nhau theo quy định của dòng họ và của pháp luật về đất đai.
2. Đất làm nhà thờ họ sẽ do ai đứng tên?
Theo khoản 5 điều 100 luật đất đai năm 2013 quy định Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ; đất nông nghiệp quy định tại khoản 3 Điều 131 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng thì được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất.
Như vậy về thủ tục thì sẽ được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho đất thờ họ đó, muốn được cấp thì cần xác định ai là người đứng tên, trong trường hợp này do đất là sở hữu chung của cộng đồng, vì vậy những ai thuộc dòng họ có mục đích sử dụng nhà thờ họ thì phải tổ chức tiến hành họp và bầu người đại diện cho dòng họ, có văn bản ủy quyền đại diện của dòng họ đối với người đại diện. Từ đó người đại diện dòng họ sẽ đứng tên trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho người đại diện đó và phải ghi rõ là người đại diện trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất làm nhà thờ họ theo quy định tại khoản 2 điều 167 luật đất đai năm 2013.
Đối với trường hợp đất của riêng mà giờ đưa vào sử dụng đất làm nhà thờ họ thì người có quyền sở dụng đất có quyền hiến tặng cho dòng họ để làm nhà thờ họ theo quy định tại khoản 1 điều 167 luật đất đai năm 2013. Việc chuyển nhượng sẽ là chuyển nhượng cho người đại diện của dòng họ.
Như vậy việc nhà thờ họ sẽ do người đại diện của dòng họ đứng tên, nếu được thành viên dòng họ thừa nhận, ủy quyền cho người đại diện. Việc quy định như vậy, pháp luật đã đảm bảo được lợi ích của tập thể, cộng đồng, giữ vững nền phong tục, tập quán, văn hóa của người Việt Nam. 
Khách hàng có thể liên hệ với chuyên viên tư vấn tại Luatsu1900.com, gọi 1900 6259 hoặc gửi thư điện tử tới lienhe@luatsu1900.com để được hỗ trợ.


0 nhận xét:

Đăng nhận xét