Thứ Tư, 16 tháng 1, 2019

Cho người lao động nghỉ việc do sáp nhập doanh nghiệp thì cần trả trợ cấp gì?

Sáp nhập doanh nghiệp là gì? Sau khi doanh nghiệp sáp nhập thì người lao động có phải nghỉ việc không? Khi cho người lao động nghỉ việc do sáp nhập doanh nghiệp thì cần chi trả những khoản nào?

Việc sáp nhập doanh nghiệp là hình thức diễn ra phổ biến trên thế giới. Ở tại Việt Nam sáp nhập doanh nghiệp thường diễn ra giữa các ngân hàng nhỏ với nhau hoặc giữa các công ty, tập đoàn kinh tế. Nếu cho người lao động nghỉ việc do sáp nhập doanh nghiệp thì phải chi trả cho họ các khoản trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc theo quy định của Bộ luật Lao động 2012.
1. Sáp nhập doanh nghiệp
Theo khoản 1 Điều 195 Luật doanh nghiệp 2014 quy định một hoặc một số công ty (sau đây gọi là công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (sau đây gọi là công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
 Theo nghĩa hẹp: Sáp nhập doanh nghiệp là giao dịch trong đó một hoặc một số doanh nghiệp từ bỏ pháp nhân của mình để gia nhập vào một doanh nghiệp khác. Doanh nghiệp nhận sáp nhập sẽ tiếp nhận toàn bộ tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ của doanh nghiệp bị sáp nhập. Sau khi việc sáp nhập hoàn thành doanh nghiệp bị sáp nhập sẽ chấm dứt sự tồn tại của mình.
Theo nghĩa rộng: Sáp nhập doanh nghiệp bao gồm cả việc hai hoặc nhiều doanh nghiệp chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp của mình để hình thành một doanh nghiệp mới, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của các doanh nghiệp trước sáp nhập (sáp nhập theo nghĩa rộng bao gồm cả hợp nhất).
2. Người lao động có bị mất việc khi sáp nhập doanh nghiệp
Trong trường hợp sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã thì người sử dụng lao động kế tiếp phải chịu trách nhiệm tiếp tục sử dụng số lao động hiện có và tiến hành việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động theo Điều 45 Bộ luật Lao động 2012.
Nếu không sử dụng hết số lao động hiện có, thì người sử dụng lao động kế tiếp có trách nhiệm xây dựng và thực hiện phương án sử dụng lao động theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật Lao động 2012. Đối với trường hợp chuyển quyền sở hữu hoặc quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, thì người sử dụng lao động trước đó phải lập phương án sử dụng lao động. Tuy nhiên, nếu người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc thì phải trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động theo quy định.
Như vậy, sau khi sáp nhập doanh nghiệp, người lao động vẫn có thể được tiếp tục làm việc hoặc sẽ bị thôi việc theo phương án sử dụng lao động của người sử dụng lao động kế tiếp.
Căn cứ theo quy định tại Điểm b Khoản 4 Điều 14 Nghị định số 05/2015/NĐ-CP như sau:
“Trường hợp sau khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm đối với thời gian người lao động đã làm việc cho mình và thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trước khi sáp nhập, hợp nhất, chia tách doanh nghiệp, hợp tác xã.”
Như vậy, theo quy định trên thì đối với trường hợp sau khi sáp nhập doanh nghiệp mà người lao động chấm dứt hợp đồng lao động thì người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm đối với thời gian người lao động đã làm việc cho mình và thời gian người lao động đã làm việc cho người sử dụng lao động trước khi sáp nhập.
a) Trợ cấp thôi việc
Về cách tính: Khi người lao động làm đủ 12 tháng trở lên thì mỗi năm sẽ được hưởng 0.5 tháng tiền lương. Trường hợp lẻ từ đủ 01 tháng đến dưới 06 tháng được tính bằng 1/2 năm và được hưởng thêm 0.25 tháng tiền lương; nếu lẻ từ 06 tháng trở lên được tính bằng 01 năm làm việc và được hưởng thêm 0.5 tháng tiền lương.
Về thời gian hưởng trợ cấp thôi việc = thời gian làm việc thực tế – (thời gian tham gia bảo hiểm thất nghiệp + thời gian đã chi trả trợ cấp thôi việc).
b) Trợ cấp mất việc
Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 44 và Điều 45 của Bộ luật Lao động 2012, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương.
Thời gian làm việc để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian người lao động đã làm việc thực tế cho người sử dụng lao động trừ đi thời gian người lao động đã tham gia bảo hiểm thất nghiệp theo quy định của Luật bảo hiểm xã hội và thời gian làm việc đã được người sử dụng lao động chi trả trợ cấp thôi việc.
Tiền lương để tính trợ cấp mất việc, trợ cấp thôi việc làm là tiền lương bình quân theo hợp đồng lao động của 06 tháng liền kề trước khi người lao động mất việc làm. 
Khách hàng có thể liên hệ với chuyên viên tư vấn tại Luatsu1900.com để được hỗ trợ.

0 nhận xét:

Đăng nhận xét